Huyền Thuật  

TửVi TướngSố

PhongThủy ĐịaLý

VănHóa TônGiáo

YHọc CổTruyền

BùaNgải CổThuật

   
Chào mừng, Khách vãng lai
Tên đăng nhập: Mật mã: Tự động đăng nhập

Tỳ Kheo Là Gì ?
(1 người đang xem) (1) Khách
  • Trang:
  • 1

CHỦ ĐỀ: Tỳ Kheo Là Gì ?

Tỳ Kheo Là Gì ? cách đây 8 tháng, 2 tuần #2292

  • Cổ Phong Tự
  • ( Thành viên )
  • OFFLINE
  • Fresh Boarder
  • Tổng số bài viết: 35
  • Điểm khen ngợi: 0
Tì Kheo - Tỉ Khâu - Tỉ Khưu

Tỉ-khâu hoặc Tỉ-khưu (zh. 比丘, sa. bhikṣu, pi. bhikkhu, bo. dge slong དགེ་སློང་) là từ phiên âm chữ bhikkhu trong tiếng Pali và chữ bhikṣu trong tiếng Phạn, có nghĩa là "người khất thực" (khất sĩ 乞士, khất sĩ nam 乞士男). Ta thường thấy cách đọc trại khác là Tỉ-kheo, Tì-kheo. Các cách phiên âm Hán-Việt khác là Bật-sô (zh. 苾芻, 苾蒭), Bị-sô (zh. 備芻, 備芻), Tỉ-hô (zh. 比呼), và cách dịch ý Hán-Việt khác là Trừ sĩ (zh. 除士), Huân sĩ (zh. 薰士), Phá phiền não (zh. 破煩惱), Trừ cận (zh. 除饉), Bố ma (怖魔).

Thuật ngữ vốn thường được dùng ở Ấn Độ chỉ cho giai đoạn thứ tư trong cuộc đời của người theo đạo Bà-la-môn, trong đó người chủ gia đình rời bỏ đời sống gia đình, sống bằng hạnh khất thực và tìm cầu chân lí giải thoát. Trong Phật giáo, thuật ngữ có nghĩa là một tăng sĩ Phật giáo, người từ bỏ cuộc sống thế tục, thụ lĩnh giới luật. Gần tương đương với thuật ngữ Sa-môn (zh. 沙門, sa. śramaṇa).

Trong luận giải về kinh Kim cương, Đại sư Tông Mật đã đưa ra 3 định nghĩa về thuật ngữ Tỉ-khâu:

Bố ma (zh. 怖魔): "mối lo sợ của ma quỷ";
Khất sĩ (zh. 乞士); "sống bằng hạnh khất thực";
Tịnh giới (zh. 淨戒): "giới luật thanh tịnh".
Theo quan điểm nguyên thủy, chỉ có những người sống viễn li mới có thể đạt được Niết-bàn. Hoạt động chính của những vị này là thiền định và giảng dạy giáo pháp, không được thụ hưởng cuộc đời và chịu sống lang thang không nhà. Giới luật của tỉ-khâu là đời sống nghèo khổ, không vợ con và thực hành từ bi, được đề ra trong Luật tạng.

Cuộc sống cơ hàn của tỉ-khâu được thể hiện trong chiếc áo cà-sa của các vị đó, gồm có ba phần (Tam y, (sa. tricīvara) và do vải vụn kết lại. Vật dụng hàng ngày chỉ gồm bát khất thực, dao cạo, kim chỉ, đồ lọc nước và gậy kinh hành. Tỉ-khâu không được nhận tiền bạc hay các vật dụng khác. Thức ăn là do cúng dường, thuốc men chủ yếu là nước tiểu thú vật.

Đầu tiên, tỉ-khâu thường sống một cuộc đời lang thang. Trong mùa mưa, các vị đó thường buộc phải an trú trong một tinh xá (zh. 精舍, sa., pi. vihāra). Lí do là vì nếu đi lại trong mùa mưa, các vị có thể gây tai hại cho động vật và cây cối. Vì vậy, các vị chỉ được rời tu viện vì lí do đặc biệt trong mùa này. Mùa An cư được chấm dứt bằng buổi lễ Tự tứ (zh. 自恣, sa. pravāraṇā), trong đó các vị cùng sống chung trong thời gian qua kiểm điểm lại lỗi lầm hay thiếu sót với nhau. Qua năm tháng, tỉ-khâu ít đi vân du, các vị sống nhiều trong các tu viện, tuy nhiên, tục đi hành hương chiêm bái vẫn còn được giữ đến ngày nay. Ngày nay, các tỉ-khâu phần lớn vẫn còn giữ tập tục như hồi đức Phật còn tại thế, nhưng mặt khác, họ phải thích nghi với đời sống xã hội và điều kiện địa lí. Ví dụ như các tỉ-khâu Trung Quốc thường hay làm công việc đồng áng, đó là điều mà tỉ-khâu ngày xưa không được làm vì sợ giết hại sinh mệnh côn trùng. Trong một vài trường phái của Tây Tạng và Nhật Bản, tỉ-khâu có thể lập gia đình, có vợ con. Các quy định về khất thực cũng thay đổi nhiều qua thời gian.

A. Cách Xưng Hô Trong Phật Giáo


Trong khóa nghiên tu an cư mùa hạ năm 2005, tại Tổ đình Từ Quang Montréal, Canada, các thắc mắc sau đây được nêu lên trong phần tham luận:
1) Khi nào gọi các vị xuất gia bằng Thầy, khi nào gọi bằng Đại Đức, Thượng Tọa hay Hòa Thượng?
2) Khi nào gọi các vị nữ xuất gia bằng Ni cô, Sư cô, Ni sư hay Sư Bà? Có bao giờ gọi là Đại Đức Ni, Thượng Tọa Ni hay Hòa Thượng Ni chăng?
3) Khi ông bà cha mẹ gọi một vị sư là Thầy (hay Sư phụ), người con hay cháu phải gọi là Sư ông, hay cũng gọi là Thầy? Như vậy con cháu bất kính, coi như ngang hàng với bậc bề trên trong gia đình chăng?
4) Một vị xuất gia còn ít tuổi đời (dưới 30 chẳng hạn) có thể nào gọi một vị tại gia nhiều tuổi (trên 70 chẳng hạn) bằng “con” được chăng, dù rằng vị tại gia cao niên đó xưng là “con” với vị xuất gia?
5) Sau khi xuất gia, một vị tăng hay ni xưng hô như thế nào với người thân trong gia đình?

Trước khi đi vào phần giải đáp các thắc mắc trên, chúng ta cần thông qua các điểm sau đây:
1) Chư Tổ có dạy: “Phật pháp tại thế gian”. Nghĩa là: việc đạo không thể tách rời việc đời. Nói một cách khác, đạo ở tại đời, người nào cũng đi từ đời vào đạo, nương đời để ngộ đạo, tu tập để độ người, hành đạo để giúp đời. Chư Tổ cũng có dạy: “Hằng thuận chúng sanh”. Nghĩa là: nếu phát tâm tu theo Phật, dù tại gia hay xuất gia, đều nên luôn luôn thuận theo việc dùng tứ nhiếp pháp (bố thí, ái ngữ, lợi hành và đồng sự) để đem an lạc cho chúng sanh, tức là cho mọi người trong đời, bao gồm những người đang tu trong đạo.
2) Từ đó, chúng ta chia cách xưng hô trong đạo Phật ra hai trường hợp: Một là, cách xưng hô chung trước đại chúng nhiều người, có tính cách chính thức, trong các buổi lễ, cũng như trên các văn thư, giấy tờ hành chánh. Hai là, cách xưng hô riêng giữa hai người, tại gia hay xuất gia, mà thôi. Người chưa rõ cách xưng hô trong đạo không nhứt thiết là người chưa hiểu đạo, chớ nên kết luận như vậy. Cho nên, việc tìm hiểu và giải thích là bổn phận của mọi người, dù tại gia hay xuất gia.
3) Có hai loại tuổi được đề cập đến, đó là: tuổi đời và tuổi đạo. Tuổi đời là tuổi tính theo đời, kể từ năm sinh ra. Tuổi đạo là tuổi thường được nhiều người tính từ ngày xuất gia tu đạo. Nhưng đúng ra, tuổi đạo phải được tính từ năm thụ cụ túc giới và hằng năm phải tùng hạ tu học theo chúng và đạt tiêu chuẩn, mỗi năm như vậy được tính một tuổi hạ. Nghĩa là tuổi đạo còn được gọi là tuổi hạ (hay hạ lạp). Trong nhà đạo, tất cả mọi việc, kể cả cách xưng hô, chỉ tính tuổi đạo, bất luận tuổi đời. Ở đây không bàn đến việc những vị chạy ra chạy vào, quá trình tu tập trong đạo không liên tục.
Bây giờ, chúng ta bắt đầu từ việc một người tuổi đời dưới 20 phát tâm xuất gia, hay do gia đình đem gửi gắm vào cửa chùa, thường được gọi là chú tiểu, hay điệu. Đó là các vị đồng chơn nhập đạo. Tùy theo số tuổi, vị này được giao việc làm trong chùa và học tập kinh kệ, nghi lễ. Thời gian sau, vị này được thụ 10 giới, gọi là Sa di (nam) hay Sa di ni (nữ), hoặc Chú (nam) hay Ni cô (nữ). Khi tuổi đời dưới 14, vị này được giao việc đuổi các con quạ quấy rầy khu vực tu thiền định của các vị tu sĩ lớn tuổi hơn, cho nên gọi là “khu ô sa di” (sa di đuổi quạ).
Đến năm được ít nhất là 20 tuổi đời, và chứng tỏ khả năng tu học, đủ điều kiện về tu tánh cũng như tu tướng, vị này được thụ giới cụ túc, tức là 250 giới tỳ kheo (nam) hay 348 giới tỳ kheo ni (nữ) và được gọi là Thầy (nam) hay Sư cô (nữ). Trên giấy tờ thì ghi là Tỳ Kheo (nam) hay Tỳ Kheo Ni (nữ) trước pháp danh của vị xuất gia. Ở đây xin nhắc thêm, trước khi thụ giới tỳ kheo ni, vị sa di ni (hoặc thiếu nữ 18 tuổi đời xuất gia và chưa thụ giới sa di ni) được thụ 6 chúng học giới trong thời gian 2 năm, được gọi là Thức xoa ma na ni. Cấp này chỉ có bên ni, bên tăng không có. Tuy nhiên trong tạng luật, có đến 100 chúng học giới chung cho cả tăng và ni. Cũng cần nói thêm, danh từ tỳ kheo có nơi còn gọi là tỷ kheo, hay tỳ khưu, tỷ khưu. Bên nam tông, tỷ kheo có 227 giới, tỷ kheo ni có 311 giới.
Giới cụ túc (tỳ kheo hay tỳ kheo ni) là giới đầy đủ, viên mãn, cao nhất trong đạo Phật để từng vị xuất gia tu tập cho đến lúc mãn đời (thường gọi là viên tịch), không phải thụ giới nào cao hơn. Việc thụ bồ tát giới (tại gia hay xuất gia) là do sự phát tâm riêng của từng vị theo bắc tông, nam tông không có giới này. Ở đây, xin nói thêm rằng: Bắc tông (hay bắc truyền) là danh từ chỉ các tông phái tu theo sự truyền thừa về phương bắc của xứ Ấn Độ, qua các xứ Tây Tạng, Trung Hoa, Triều Tiên, Nhật bổn và Việt Nam. Nam tông (hay nam truyền, nguyên thủy) là danh từ chỉ các tông phái tu theo sự truyền thừa về phương nam của xứ Ấn Độ, qua các xứ Tích Lan, Thái Lan, Miến Điện, Lào, Cao Miên và Việt Nam.
Trong lúc hành đạo, tức là làm việc đạo trong đời, đem đạo độ đời, nói chung sự sinh hoạt của Phật giáo cần phải thiết lập tôn ti trật tự (cấp bậc) có danh xưng như sau theo hiến chương của giáo hội Phật giáo:
1) Năm 20 tuổi đời, vị xuất gia thụ giới tỳ kheo được gọi là Đại Đức.
2) Năm 40 tuổi đời, vị tỳ kheo được 20 tuổi đạo, được gọi là Thượng Tọa.
3) Năm 60 tuổi đời, vị tỳ kheo được 40 tuổi đạo, được gọi là Hòa Thượng.
Còn đối với bên nữ (ni bộ):
4) Năm 20 tuổi đời, vị nữ xuất gia thụ giới tỳ kheo ni được gọi là Sư cô (hiện nay ở Canada, có giáo hội gọi các vị tỳ kheo ni này là Đại Đức).
5) Năm 40 tuổi đời, vị tỳ kheo ni được 20 tuổi đạo, được gọi là Ni sư.
6) Năm 60 tuổi đời, vị tỳ kheo ni được 40 tuổi đạo, được gọi là Sư bà (bây giờ gọi là Ni trưởng).
Đó là các danh xưng chính thức theo tuổi đời và tuổi đạo (hạ lạp), được dùng trong việc điều hành Phật sự, trong hệ thống tổ chức của giáo hội Phật giáo, không được lạm dụng tự xưng, tự phong, tự thăng cấp, mà phải được xét duyệt và chấp thuận bởi một hội đồng giáo phẩm có thẩm quyền, và được cấp giáo chỉ tấn phong, nhân dịp đại lễ hay đại hội Phật giáo, trong các giới đàn, hay trong mùa an cư kết hạ hằng năm.
Như trên, chúng ta có thể hiểu rằng: Sư cô nghĩa là Đại đức bên ni bộ. Ni sư nghĩa là Thượng tọa bên ni bộ. Sư bà (hay Ni trưởng) nghĩa là Hòa thượng bên ni bộ. Bởi vậy cho nên, các buổi lễ hay văn thư chính thức, thường nêu lên là: “Kính bạch chư tôn Hòa thượng, Thượng tọa, Đại đức, Tăng Ni”, chính là nghĩa đó vậy. Tuy vậy, trên thực tế, chưa thấy có nơi nào chính thức dùng các danh xưng: Đại đức ni, Thượng tọa ni, hay Hòa thượng ni. Nếu có nơi nào đã dùng, chỉ là cục bộ, chưa chính thức phổ biến, nghe không quen tai nhưng không phải là sai.
Đối với các bậc Hòa Thượng mang trọng trách điều hành các cơ sở giáo hội Phật giáo trung ương cũng như địa phương, hay các Đại tùng lâm, Phật học viện, Tu viện, thường là các vị trên 80 tuổi đời, được tôn xưng là Đại Lão Hòa Thượng hay Trưởng Lão Hòa Thượng. Các vị thuộc hàng giáo phẩm này thường được cung thỉnh vào các hội đồng trưởng lão, hoặc hội đồng chứng minh tối cao của các giáo hội Phật giáo. Tuy nhiên, khi ký các thông bạch, văn thư chính thức, chư tôn đức vẫn xưng đơn giản là Tỳ kheo, hay Sa môn (có nghĩa là: thầy tu).

Đến đây, chúng ta nói về cách xưng hô giữa các vị xuất gia với nhau và giữa các vị cư sĩ Phật tử tại gia và tu sĩ xuất gia trong đạo Phật.
1) Giữa các vị xuất gia, thường xưng con (hay xưng pháp danh, pháp hiệu) và gọi vị kia là Thầy (hoặc gọi cấp bậc hay chức vụ vị đó đảm trách). Bên tăng cũng như bên ni, đều gọi sư phụ bằng Thầy, (hay Sư phụ, Tôn sư, Ân sư). Các vị xuất gia cùng tông môn, cùng sư phụ, thường gọi nhau là Sư huynh, Sư đệ, Sư tỷ, Sư muội, và gọi các vị ngang vai vế với Sư phụ là Sư thúc, Sư bá. Có nơi dịch ra tiếng Việt, gọi nhau bằng Sư anh, Sư chị, Sư em. Ngoài đời có các danh xưng: bạn hữu, hiền hữu, hội hữu, chiến hữu. Trong đạo Phật có các danh xưng: đạo hữu (bạn cùng theo đạo), pháp hữu (bạn cùng tu theo giáo pháp). Các danh xưng: tín hữu (bạn cùng tín ngưỡng, cùng đức tin), tâm hữu (bạn cùng tâm, đồng lòng) không thấy được dùng trong đạo Phật.
2) Khi tiếp xúc với chư tăng ni, quí vị cư sĩ Phật tử tại gia (kể cả thân quyến của chư tăng ni) thường đơn giản gọi bằng Thầy, hay Cô, (nếu như không biết rõ hay không muốn gọi phẩm trật của vị tăng ni có tính cách xã giao), và thường xưng là con (trong tinh thần Phật pháp, người thụ ít giới bổn tôn kính người thụ nhiều giới bổn hơn, chứ không phải tính tuổi tác người con theo nghĩa thế gian) để tỏ lòng khiêm cung, kính Phật trọng tăng, cố gắng tu tập, dẹp bỏ bản ngã, dẹp bỏ tự ái, cống cao ngã mạn, mong đạt trạng thái: niết bàn vô ngã, theo lời Phật dạy. Có những vị cao tuổi xưng tôi hay chúng tôi với vị tăng ni trẻ để tránh ngại ngùng cho cả hai bên. Khi qui y Tam bảo thụ ngũ giới (tam qui ngũ giới), mỗi vị cư sĩ Phật Tử tại gia có một vị Thầy (Tăng bảo) truyền giới cho mình. Vị ấy được gọi là Thầy Bổn sư. Cả gia đình có thể cùng chung một vị Thầy Bổn sư, tất cả các thế hệ cùng gọi vị ấy bằng Thầy. Theo giáo phái khất sĩ, nam tu sĩ được gọi chung là Sư và nữ tu sĩ được gọi chung là Ni. Còn nam tông chỉ có Sư, không có hay chưa có Ni. Việc tâng bốc, xưng hô không đúng phẩm vị của tăng ni, xưng hô khác biệt trước mặt và sau lưng, tất cả đều nên tránh, bởi vì không ích lợi cho việc tu tâm dưỡng tánh.
3) Khi tiếp xúc với quí vị cư sĩ Phật tử tại gia, kể cả người thân trong gia quyến, chư tăng ni thường xưng là tôi hay chúng tôi (hay xưng pháp danh, pháp hiệu, hoặc bần tăng, bần ni), cũng có khi chư tăng ni xưng là Thầy, hay Cô, và gọi quí vị là đạo hữu, hay quí đạo hữu. Cũng có khi chư tăng ni gọi quí vị tại gia bằng pháp danh, có kèm theo (hay không kèm theo) tiếng xưng hô của thế gian. Cũng có khi chư tăng ni gọi quí vị tại gia là “quí Phật tử”. Chỗ này không sai, nhưng có chút không ổn, bởi vì xuất gia hay tại gia đều cùng là Phật tử, chứ không riêng tại gia là Phật tử mà thôi. Việc một Phật tử xuất gia (tăng ni) ít tuổi gọi một Phật tử tại gia nhiều tuổi bằng “con” thực là không thích đáng, không nên. Không nên gọi như vậy, tránh sự tổn đức. Không nên bất bình, khi nghe như vậy, tránh bị loạn tâm. Biết rằng mọi chuyện trên đời: ngôi thứ, cấp bậc, đều có thể thay đổi, nhưng giá trị tuổi đời không đổi, cứ theo thời gian tăng lên. Theo truyền thống đông phương, tuổi tác (tuổi đời) rất được kính trọng trong xã hội, dù tại gia hay xuất gia.
4) Trong các trường hợp tiếp xúc riêng, tùy thuận theo đời, không có tính cách chính thức, không có tính cách thuyết giảng, chư tăng ni có thể gọi các vị cư sĩ Phật tử tại gia, kể cả người thân trong gia quyến, một cách trân trọng, tùy theo tuổi tác, quan hệ, như cách xưng hô xã giao người đời thường dùng hằng ngày. Danh xưng Cư sĩ hay Nữ Cư sĩ thường dùng cho quí Phật tử tại gia, qui y Tam bảo, thụ 5 giới, phát tâm tu tập và góp phần hoằng pháp. Còn được gọi là Ưu bà tắc (Thiện nam, Cận sự nam) hay Ưu bà di (Tín nữ, Cận sự nữ).
5) Chúng ta thử bàn qua một chút về ý nghĩa của tiếng xưng “con” trong đạo Phật qua hình ảnh của ngài La Hầu La. Ngài là con của đức Phật theo cả hai nghĩa: đời và đạo. Ngài sớm được tu tập trong giới pháp, công phu và thiền định khi tuổi đời hãy còn thơ. Ngài không ngừng tu tập, cuối cùng đạt được mục đích tối thượng. Ngài thực sự thừa hưởng gia tài siêu thế của đức Phật, nhờ diễm phúc được làm “con” của bậc đã chứng ngộ chân lý. Ngài là tấm gương sáng cho các thế hệ Phật tử tại gia (đời) cũng như xuất gia (đạo), bất luận tuổi tác, tự biết mình có phước báo nhiều kiếp, hoan hỷ được xưng “con” trong giáo pháp của đức Phật.
6) Đối với các vị bán thế xuất gia, nghĩa là đã lập gia đình trước khi vào đạo, vẫn phải trải qua các thời gian tu tập và thụ giới như trên, cho nên cách xưng hô cũng không khác. Tuy nhiên để tránh việc gọi một người đứng tuổi xuất gia (trên 40, 50) là chú tiểu, giống như gọi các vị trẻ tuổi, có nơi gọi các vị bán thế xuất gia này là Sư chú, hay Sư bác. Hai từ ngữ này có nơi mang ý nghĩa khác. Việc truyền giới cụ túc, hay tấn phong, có khi không đợi đủ thời gian như trên đây, vì nhu cầu Phật sự của giáo hội, hay nhu cầu hoằng pháp của địa phương, nhất là đối với các vị bán thế xuất gia có khả năng hoằng pháp, đảm nhận trọng trách, nghiên cứu tu tập trước khi vào đạo.
7) Vài xưng hô khác trong đạo như: Sư ông, Sư cụ thường dành gọi vị sư phụ của sư phụ mình, hoặc gọi chư tôn đức có hạ lạp cao, thu nhận nhiều thế hệ đệ tử tại gia và xuất gia. Một danh xưng nữa là Pháp sư, dành cho các vị xuất gia tăng hay ni (sư) có khả năng và hạnh nguyện thuyết pháp (pháp) độ sanh. Ngoại đạo lạm dụng danh xưng này chỉ các ông bà thầy pháp, thầy cúng.
8) Danh xưng Sư tổ được dành cho chư tôn đức lãnh đạo các tông phái còn tại thế, và danh xưng Tổ sư được dành cho chư tôn đức đã viên tịch, được hậu thế truy phong vì có công lao trọng đại đối với nền đạo. Đối với các bậc cao tăng thạc đức thường trụ ở một tự viện, người trong đạo thường dùng tên của ngôi già lam đó để gọi quí ngài, tránh gọi bằng pháp danh hay pháp hiệu của quí ngài, để tỏ lòng tôn kính.
9) Ngày xưa khi đức Phật còn tại thế, các vị tỳ kheo thường dùng tiếng Ðại Ðức (bậc thầy đức độ lớn lao, phúc tuệ lưỡng toàn) để xưng tán Ngài, mỗi khi có việc cần thưa thỉnh. Các vị đệ tử lớn của đức Phật cũng được gọi là Ðại Ðức. Trong các giới đàn ngày nay, các giới tử cũng xưng tán vị giới sư là Đại Đức.
10) Nói chung, cách xưng hô trong đạo Phật nên thể hiện lòng tôn kính lẫn nhau, noi theo Thường bất khinh Bồ tát, bất tùy phân biệt, bất luận tuổi tác, dù tại gia hay xuất gia, nhằm ngăn ngừa tư tưởng luyến ái của thế tục, nhắm thẳng hướng giác ngộ chân lý, giải thoát sinh tử khổ đau, vượt khỏi vòng luân hồi loanh quanh luẩn quẩn. Nhất giả lễ kính chư Phật. Nhất thiết chúng sanh giai hữu Phật tánh. Cho nên đơn giản nhất là “xưng con gọi Thầy”. Theo các bộ luật bắc tông và nam tông còn có nhiều chi tiết hơn.
----- Thầy Thích Huệ Chân -----
( theo Wikipedia and luubichson)
Những thành viên sau(s) đã Cảm ơn: tuevan

Tỳ Khưu Ni cách đây 8 tháng, 2 tuần #2306

  • tuevan
  • ( Thành viên )
  • OFFLINE
  • Fresh Boarder
  • Tổng số bài viết: 21
  • Điểm khen ngợi: 0
Sau đây là một vài phần trích đoạn từ cuộc phỏng vấn về vấn đề Tỳ Khưu Ni
(Tg: Pháp Độ - Nguyên tác: NISSARA HORAYANGURA, The Bangkok Pots )

Có thật là bởi vì chúng Tỳ khưu ni theo Nam truyền bị “thất truyền” nhiều thế kỷ trước đây nên Tỳ khưu ni giới không thể trao giới cho các vị tân Tỳ khưu ni theo đúng tinh thần của giới luật? Và có vị Tỳ khưu ni người Thái Lan nào được thọ giới Tỳ khưu ni từ ni đoàn của Nam truyền, ni đoàn này được phục hồi tại nước Tích lan [trong những năm 1990 theo thọ giới với các vị giới sư Tỳ khưu ni theo Bắc truyền] được cho là không hợp pháp cho Tỳ khưu ni theo Nam truyền?
Đây là một sự sai lầm. Tại Thái Lan, chúng ta có lúc đã bỏ quá nhiều thời gian để tin vào những lời dạy của các bậc thầy của chúng ta, chỉ biết tin theo sự hiểu biết của chúng ta hơn là tìm hiểu nghiên cứu và khám phá. Tôi cũng đã suy nghĩ như vậy. Khi còn là một vị tăng trẻ sống tại Thái Lan mọi người cho rằng ni đoàn không thể phục hồi một cách hợp pháp. Nhưng sau thời gian tìm tòi nghiên cứu và học hỏi, tôi mới vỡ lẽ là vấn đề này không có gì nghiêm trọng cả. Có một người như Tỳ kheo Bodhi [một vị Tăng lỗi lạc được kính trọng bên Nam truyền] đã nghiên cứu trong tạng luật bằng tiếng Pali và bài viết của Thầy là một trong những bài có tính hùng biện lô gích nhất mà tôi đã từng đọc qua – công bằng, được cân nhắc kỹ lưỡng vượt ra ngoài cái định kiến lâu nay và cho rằng “điều này là có thể, tại sao chúng ta không làm việc này”? Tôi vừa xúc tiến để in bài của Thầy Bodhi bằng tiếng Thái Lan. Đây sẽ là một cống hiến lớn cho chư tăng và những ai hứng thú về vấn đề này tại Thái Lan.

Một sự sai lầm lớn nhất là cho rằng chư Tỳ khưu ni theo thuyền thống Bắc truyền dường như đã bị tách biệt khỏi Nam truyền. Nhưng sự thật của vấn đề là không phải như vậy trong tạng luật của Bắc truyền. Trong tất cả các trường phái của Bắc truyền, họ hầu hết thực tập theo tạng luật của Pháp tạng bộ. Pháp tạng bộ là một chi nhánh của Nam truyền. Họ thực tập theo tạng luật của Nam truyền. Vì vậy, chúng tỳ khư ni mà chúng ta vẫn thấy ngày nay ở Đài Loan và Trung Quốc là một sự truyền thừa không bị gián đoạn từ thời Đức Phật.
Hơn nữa, có một cách khác trong việc diễn giải về luật tạng cho rằng Đức Phật đã để lại một “đặc ân” giành cho chúng Tỳ khưu để trao giới cho chúng Tỳ khưu ni và phục hồi lại ni đoàn.
Điều này được nghi lại trong luật tạng, chúng ta có thể trao đổi điểm này trên tinh thần như là các nhà học giả nhưng cũng xuất phát từ lòng từ bi. Bạn phải thực hành theo các giới luật nhưng nếu có một khả năng để trình bày vấn đề một cách rõ ràng hơn là một việc làm tốt đẹp. Đó là điều chúng ta phải nên thực hành theo bởi vì Đức Phật đã từng khuyến khích chúng ta nên làm những việc như vậy.
Trước đây, vấn đề này nói thì dễ hơn làm. Bây giờ, cuộc tranh luận là liệu nó có thể giải quyết hay không được giải quyết nhưng câu hỏi là nó có thể hay không thể tiến hành.

Tại sao Thầy lại nghĩ vấn đề này cần phải làm?
Tại sao Đức Phật thành lập ni đoàn nếu nó không giúp gì cho tương lai của Phật pháp hay tạo nhiều cơ hội cho phái nữ đạt được giải thoát? Chúng ta luôn luôn nói rằng Đức Phật hiểu biết nhiều hơn chúng ta. Nếu Đức Phật nghĩ nó là một ý tưởng hay vậy tại sao chúng ta lại không?
Vì là một tu sĩ Phật giáo tôi thật sự buồn khi mà phụ nữ không nhận được sự ủng hộ cho việc xuất gia tu học. Nếu họ nhận được một “nữa cơ hội” thì có rất nhiều phụ nữ ham thích đời sống thiền môn. Nếu chúng ta trao giới và tạo tự viện cho Tỳ khưu ni giống như chúng ta làm cho các thầy Tỳ khưu thì họ sẽ phát triển thạnh vượng. Họ sẽ không bỏ lở những cơ hội, họ sẽ không phá hoại tăng đoàn. Họ sẽ đề cao nó, trang điểm cho nó và họ sẽ phục vụ hết lòng để đem Phật giáo vào thế kỷ thứ 21 và trở thành những người tiên phong trong xã hội Thái một lẫn nữa.
Nhiều người thường hay nói rằng người Thái ở thủ đô Bangkok cũng như những vùng khác đang sống tách biệt với Phật giáo. Thiết lập chúng Tỳ khưu ni sẽ tạo nên một sức mạnh rất lớn, một cách hữu hiệu để tái thiết niềm tin trong Phật giáo đồ. Nó cũng nói lên rằng chúng ta đang sống trong thời buổi hiện đại. Và nó cũng cho thấy rằng chúng ta là một tôn giáo bình đẳng. Chúng ta sẽ ăn nói ra làm sao khi chúng ta đang hành theo nhân duyên, sự thật và công bằng khi mà chúng ta từ chối 50% dân số có cùng những cơ hội như nhau?
Ở trong một xã hội như nước Úc thì không có lựa chọn nào khác hơn. Khi mà các tôn giáo khác đang cổ vũ cho sự bình quyền cho phụ nữ nếu Phật giáo không làm việc này thì chúng ta sẽ không thể nào tồn tại trong tương lai. Trong văn hóa của các nước Phương tây thì không thể chấp nhận được việc thiếu sự bình đẳng giữa nam giới và nữ giới và nó cũng đang tiến theo đà này trong xã hội Thái Lan.
Phật giáo cũng đang bị mờ nhạc trong xã hội Thái bởi vì mọi người không còn kính trọng chư Tăng nhiều nữa. Hãy để cho phụ nữ gia nhận giáo đoàn và họ có thể giúp giải quyết vấn đền nan giải này.

Tại Thái lan, đã có rất nhiều phụ nữ là những giáo thọ và các vị “nữ tu” [quý sư cô mặc áo trắng] những người nhận được sự kính trọng rất cao và vui thích với vai trò của họ. Nhiều người Phật tử cho rằng họ sẽ không phản đối nếu có một ai đó mặc áo cà sa hay là không miễn sao họ thuyết pháp giỏi. Vậy thì tại sao chúng ta cần phải thiết lập chúng Tỳ khưu ni?
Thậm chí ở các nước như Úc hay Hoa Kỳ, nơi có rất nhiều người giáo thọ là Phật tử tại gia so với với quý Thầy đi giảng dạy và quý Thầy những người không đi giảng dạy. Những vị Thầy mà không đi giảng dạy cũng nhận được sự ủng hộ hơn là những Phật tử tại gia đi giảng dạy. Mọi người ủng hộ Tăng đoàn bởi vì chính Đức Phật có dạy trong kinh điển rằng bất luận vật phẩm nào dâng cúng cho chúng Tỳ khư và Tỳ khưu ni sẽ có nhiều phước báo hơn là hiến tặng cho người đời. Tại sao ư? Vì bạn không phải ủng một cho một người mà bạn đang ủng hộ cho một truyền thống, một cổ xe vận hành.
Tu nữ không phải là một rộng phước cao thượng. Đức Phật chưa bao giờ thành lập giáo hội cho tu nữ mà Ngài thành lập Ni đoàn. Bạn không thể chối cải đối với vấn đề đó!
Sự thật thì trong xã hội Thái Lan, hầu hết các vị tu nữ không có uy tín và chính nó là một nguồn động viên. Có lẽ nếu có chúng Tỳ khư ni, phái nữ sẽ nhận được nhiều sự trợ giúp hơn.
Và có một vài người sẽ hỏi tôi “vậy liệu có người nữ nào muốn trở thành Tỳ khưu ni chăng”? Chừng nào còn có một người phát tâm xuất gia làm Tỳ khưu ni thì chúng ta phải tạo cơ hội cho họ. Không phải ai cũng muốn là Tỳ khưu ni nhưng nếu có một người, mười người, hai mươi người thì tại sao chúng ta không làm? Và theo như tôi được biết có rất nhiều người muốn làm Tỳ khưu ni.

Thật là không cần thiết để trở thành Tỳ khưu ni để thấy được đạo – một vài người tại gia và các tu nữ đã làm đươc việc đó. Làm thế nào để trở thành một Tỳ khưu ni mới có thể giúp cho người ấy tiến bộ trong giáo pháp và đạt đến quả vị cao nhất?
Điều này có liên hệ đến vấn đề ủng hộ. Đức Phật đã nói bạn cần phải có những sự tiện lợi [những điều kiện có lợi] để thực tập như: một nơi thanh vắng, được ủng hộ tốt và không có quá nhiều việc để làm. Rõ ràng là rất là khó cho những người phụ nữ tìm ra một nơi như vậy.
Một lợi ích khác là một sự ngưỡng mộ mà nó tác động đến bạn. Vì là một tu sĩ tôi biết tôi đang có sự kết nối với cuội nguồn cách đây 2500 năm. Mới đây, khi tôi ở tại Tích Lan nơi đó có một cái hang rất được kính ngưỡng và được cho biết rằng cái hang này đã từng được dưng cúng cho chư tăng cách đây 1,500 năm. Và bạn có thể ngồi trong cái hang đó và biết rằng nơi đây đã từng có chư tăng đến ngồi trong cái hang này trong vòng 1,500 năm qua để thiền tập. Họ cũng giữ những giới pháp giống như tôi đang thọ. Điều đó đã tác động đến tôi rất nhiều. Bạn có cảm giác là bạn phải giữ gìn truyền thống này và kính trọng các vị Tăng - những người trước đó đã đến đây. Việc ấy là một trợ duyên rất lớn lao cho việc thực tập của chính bản thân tôi. Nó thật tuyệt vời làm sao!
Lại nữa, một vị Tỳ khưu ni có nhiều giới để gìn giữ hơn một người cận sự nữ (nữ đệ tử) hay là một tu nữ [giữ 8 đến 10 giới so với 311 giới cho Tỳ khưu ni]. Những gì chúng ta đang ngăn giữ là các căn, là sự chạy nhãy của cái tâm, là các phiền não. Vì vậy trong một sự ý thức cao độ khi mà một người tạo ra một sự chuyển biến từ một vị mới tập tu lên một vị Tỳ khưu ni hay từ một tu nữ lên Tỳ khưu ni thì những giới pháp thêm vào này rất là hữu ích. Bởi vì bằng cách giữ gìn giới pháp cao quý hơn bạn thường ghi nhận rằng thật là dễ dàng hơn để đạt được các quả vị sâu hơn trong khi hành thiền và cũng như việc chứng ngộ.

Những người nữ tập tu không thể chỉ học các giới của Tỳ khưu ni và vẫn giữ địa vị của họ mà không cần trở thành Tỳ khưu ni có được không?
Khi bạn thọ các giới luật thì bạn phải sống trong một cộng đồng [của chư Tăng] thì lúc đó bạn mới thật sự giữ các giới bởi vì có các tu sĩ khác giúp đỡ trông chừng cho bạn. Và bạn ở trong một nơi mà bạn được khuyến kích giữ gìn các giới đã thọ. Nếu bạn cố gắng giữ các giới này một mình những người khác họ không hiểu sự quan trọng của nó có thể sẽ tranh cãi với bạn và bạn sẽ làm mất các giới này.

Cũng tương tự như vậy, phái nữ thường hay được nhiều Thầy dạy và thậm chí những người nữ khác nói rằng “không cần thiết phải thọ giới mới tu được” Bạn có thể tự thọ giới trong lòng và thực hành bất cứ nơi nào bạn sống. Thầy nghĩ thế nào về việc này ạ?
Nếu có vị tu sĩ nào mà nói [với phái nữ] rằng là không cần thiết phải thọ giới mới tu hành giỏi được thì họ cũng nên “rời bỏ chiếc áo nhà chùa” và thực hành giống người đời đi. Ít ra, lúc đó họ mới thật sự chứng minh cho lời nói của họ. Cái lý do tại sao họ vẫn giữ hình thức tu sĩ là vì thật dễ dàng hơn nhiều để tu hành như là một Tỳ khưu hay Tỳ khưu ni.
Lúc tôi ở với Hòa Thượng Ajahn Chah vào một buổi tối nọ khi có Christopher Titmuss [một giáo thọ Phật tử tại gia ở tại Anh Quốc], lúc đó đã xuất gia đến nói với Ngài Ajahn Chah rằng Thầy ấy sẽ “hoàn tục”. Ngài Ajahn Chah hỏi tại sao vậy? Thầy ấy trả lời “bởi vì con muốn giảng dạy Phật pháp tại tây Phương và nó dễ dàng hơn cho con để giảng dạy Phật pháp với tư cách là một cư sĩ tại gia hơn là hình thức của một vị Tăng”. Và Ngài Ajahn Chah trả lời “thế thì tại sao Đức Phật phải thành lập giáo đoàn”?. Ngài nhắc đến một điểm rất ư là quan trọng rằng Đức Phật thiết lập nó bởi vì nó là phương tiện hay nhất để cho một người nào đó thực tập tu hành để đạt được quả vị giác ngộ giải thoát và cũng là phương tiện tốt đẹp nhất cho việc giảng dạy Phật pháp.

Thầy có nghĩ là trong suốt khoảng thời gian mà ni đoàn bên Nam truyền bị thất truyền hàng thế kỷ, có ít người nữ đạt được quả vị giải thoát so với thời kỳ trước đây?
Cái lý do mà tôi biết là sự chứng ngộ của phụ nữ càng bị ít đi là vì không có giáo hội ni bộ. Sự chứng ngộ của nam giới cũng sẽ bị giảm thiểu nếu không có giáo hội Tăng già.

Vậy, ở một góc độ nào đó giống như là “dịch vụ miệng – lip service: chỉ nói bằng miệng) khi nói “phụ nữ và nam giới có khả năng tiềm tàng về đời sống tâm linh ngang bằng nhau” nếu không có cùng những điều kiện trợ giúp như nhau để nhận ra khả năng tiềm tàng đó?
Tôi đồng ý. Tôi muốn dùng một thí dụ tương tự. Chúng ta có thể nói rằng nữ giới thông minh như nam giới nhưng thật ra lúc đó không có trường đại học nào chấp nhận nữ giới. Khi tôi theo học ở trường đại học Cambridge thì có 30 trường đại học giành cho nam giới và chỉ có 3 trường giành cho nữ giới. Hiện nay thì nam giới và nữ giới có mặt cân bằng nhau ở các trường đại học. Nếu chúng ta đã nói “vâng, phụ nữ thì thông minh lắm” nhưng vẫn giữ con số 30 trường đại học cho nam giới và 3 trường cho nữ giới vậy điều đó có thể chấp nhận được không?

Nhiều người cảm thấy không mấy khả quan cho những ai đang tìm kiếm việc thọ giới cho các Tỳ khư ni như là nhũng người đất tranh cho phụ nữ la lối đòi quyền bình đẳng.
Những người mà tôi từng gặp họ đang muốn thọ giới thì không giống như vậy. Tôi nghĩ có thể đó là một sự sai lần nữa. Họ không có đòi hỏi gì hết. Họ đến chỗ tôi và thưa thế này “con làm việc này không phải là vì bản thân con” Những gì mà họ đang làm sẽ gặp nhiều khó khăn, khó khăn hơn bao giờ hết nhưng họ muốn thực hiện nó như là một sự phụ vụ chúng sanh. Đó như thể là một nhiệm vụ để thực thi hữu hiệu có lẽ không phải vì bản thân họ mà là cho những người phụ nữ khác muốn có đời sống phạm hạnh trong sự thanh tịnh. Vì vậy, đây là một sự hy sinh. Họ làm điều này với một lý tưởng cao đẹp chứ không phải là vì sự lợi ích cá nhân.

Nhiều người, thậm chí là những người rất thông cảm với Tỳ khưu ni, cảm thấy vô vọng để làm việc này bởi vì một vị Hòa thượng 80 tuổi trong hội đồng tăng già Thái Lan đã ra lệnh cấm chư Tăng trao giới cho phụ nữ và sự chấp nhận của xã hội đối với chư tỳ khưu ni vẫn còn rất yếu ớt. Mọi người có thể làm gì cả chư tăng và phật tử để giúp cho việc phục hồi giáo đoàn Tỳ khưu ni?
Chưa khi nào có “một việc gì mà không thể làm được”. Chỉ có điều là bạn chưa bao giờ nghĩ đến nó. Tiếp tục tư duy, suy nghĩ, tiếp tục điều nghiên và cuối cùng thì cũng sẽ có những giải pháp để giải quyết.
Nếu có một cái gì mà chúng ta có thể làm được để cải thiện xã hội, thậm chí là một việc nhỏ nhoi đơn giản, chúng ta cũng nên làm. Phải có tinh thần trách nhiệm bởi vì là chúng sanh chúng ta phải có bổn phận với nó.
Cái trở ngại lớn nhất đó chính là không hiểu biết về sự thật là việc truyền thừa của Tỳ khư ni lâu nay vẫn được thực hành và rất hợp pháp. Vì vậy, chúng ta phải nên truyền bá những tin tức này đến các tổ chức Phật giáo và các xã hội cũng như báo chí truyền thông truyền hình.
Kết đến, một giáo hội Tỳ khưu ni nhỏ cần phải có sự ủng hộ vật chất đặc biệt để lớn mạnh từ chỗ hầu như không có một nguồn lực nào để hiến cúng cho giáo hội ni bộ. Cả hai giới Phật tử tại gia phát tâm ủng hộ giống như các vị đã từng làm từ thời Đức Phật. Và một khi ni bộ tại Thái Lan phát triển về con số và sẽ được kính trọng vì sự giữ gìn giới luật cao quý và những lời dạy an lành.
Lúc đó, sự phổ biến của nó sẽ là nguyên nhân tự nhiên cho sự thay đổi bất cứ sự phân biệt nào trong pháp chế.

Thầy có thêm lời nào nữa không ạ?
Thật tình rất là khó để thành lập ni bộ nếu có nữ giới muốn tiến hành thiết lập nó cộng với sự trợ giúp của chư tăng để tiến hành nghi thức thọ giới. Điều đó hoàn toàn hợp pháp [theo tinh thần của giới luật]. Tại sao không? Hãy làm thử một phen. Có một cái tâm rộng mở, tạo cơ hội và xem xét những gì sẽ diễn ra. Và nếu nó là đúng rằng nó thật sự không cần thiết và rằng người Phật tử tại gia có thể thực tập cũng ngon lành như vậy thì nó sẽ không tồn tại lâu dài được. Vì vậy tại sao không thử một lần và hãy xem những gì sẽ diễn ra?

(nhomphiendich.org)
  • Trang:
  • 1
Thời gian tải trang: 5.56 giây